Cựu Phó Thủ tướng Đức bỏ 1 tỷ tìm mẹ Việt, sự thật sau 50 năm gây s;ốc…..
Cựu Phó Thủ tướng Đức bỏ 1 tỷ tìm mẹ Việt, sự thật sau 50 năm gây s;ốc…..
—
Tôi đứng trước tòa nhà màu vàng nhạt, những ô cửa sổ trắng muốt nhìn tôi như những đôi mắt xưa cũ. Nơi này vừa lạ vừa quen, như một giấc mơ tôi từng kể với cha nuôi khi còn bé – rằng tôi là một hoàng tử Việt Nam bị lạc. Nhưng sự thật thì không thi vị chút nào. Tôi đã bị bỏ rơi trong một thùng rác, mới lọt lòng, dây rốn còn chưa cắt. Người ta nhặt tôi lên, mang vào tu viện, các sơ đặt tên Đặng Đức Bách. Tôi ấp ức mãi một câu hỏi: làm sao một người mẹ có thể vứt con mình như rác? Và hơn 50 năm sau, khi tôi là Philip Rosler, cựu Phó Thủ tướng Đức, đang đứng ở chính nơi ấy, tôi vẫn chưa có câu trả lời.
Tôi sinh năm 1973 tại Khánh Hưng, Sóc Trăng. Nhưng không có giấy khai sinh, không có dòng họ, chỉ có một tờ giấy vụn sau này người ta tìm thấy ghi tên Đặng Thị Đẹp và địa chỉ 40 Nguyễn Huệ, Quận 1, Sài Gòn. Đó là tất cả manh mối về người đã mang thai tôi chín tháng mười ngày. Tôi tự hỏi bà có giữ lại một bức ảnh nào không? Có từng nghe tin con trai mình còn sống? Hay bà đã chết từ lâu, mang theo bí mật xuống mồ?
Năm tôi chín tháng tuổi, một cặp vợ chồng người Đức đến thăm cô nhi viện. Cha nuôi tôi là cựu binh quân đội Đức, ông đã chứng kiến những đau thương của chiến tranh Việt Nam qua những người bạn đồng ngũ. Ông từng nói với tôi rằng ông không chọn một đứa trẻ nào khác, mà như có bàn tay vô hình đẩy ông đến với tôi. Ngày ông bế tôi trên tay, tôi không khóc, chỉ nhìn chằm chằm, và ông bảo: “Đây là con trai ta.” Tôi lớn lên ở Hamburg trong tình yêu thương trọn vẹn. Dù khác màu da, khác mắt mũi, cha chưa bao giờ để tôi nghi ngờ mình không thuộc về ông. Tôi nhớ khi lên 6, ông kéo tôi đứng trước gương, chỉ vào mặt tôi rồi mặt ông, cười: “Nhìn khác nhau đấy, nhưng con thấy đấy, ta đều đang cười. Vậy là đủ rồi.” Nhưng sâu thẳm trong tâm hồn, tôi vẫn có một giấc mơ kỳ lạ: tôi là một hoàng tử phương Đông lạc vào xứ sở trắng tuyết, và một ngày nào đó, tôi sẽ tìm lại vương quốc của mình.
Cha nuôi dạy tôi ba nguyên tắc: tự do, cởi mở, khoan dung. Nhờ đó, tôi không ám ảnh về nguồn gốc. Tôi học giỏi, thi vào trường quân y, rồi Đại học Y khoa Hanover, trở thành bác sĩ, tiến sĩ năm 29 tuổi. Rồi chính trị gọi tôi. Năm 2009, tôi là Bộ trưởng Y tế trẻ nhất nước Đức. Hai năm sau, tôi làm Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Kinh tế – người gốc Việt đầu tiên, trẻ nhất, ở vị trí cao nhất trong chính phủ một nước châu Âu. Người Việt Nam tự hào, báo chí gọi tôi là “hiện tượng”. Nhưng có một đêm, trong căn biệt thự ở Berlin, tôi nhìn ảnh gia đình và bỗng thấy lạc lõng. Vợ tôi – một bác sĩ người Đức – nhẹ nhàng nói: “Anh chưa từng thực sự tìm về nơi mình sinh ra? Khi con cái chúng ta lớn lên, chúng sẽ hỏi, và em muốn có câu trả lời cho chúng.”
Câu nói ấy mở toang một cánh cửa tôi đã khóa chặt. Tôi bắt đầu hành trình trở về. Lần đầu tiên, năm 2006, tôi 33 tuổi. Vợ chồng tôi đứng trước bản đồ Việt Nam, loay hoay tìm Khánh Hưng – không thấy. Sài Gòn thì quá rộng. Tôi tưởng mình đã đánh mất quá khứ mãi mãi. Nhưng tình cờ, trong một tiệm sách cũ, tôi tìm thấy tấm bản đồ năm 1975. Khánh Hưng hiện ra. Tim tôi đập mạnh. Tôi bắt xe xuống Sóc Trăng, len lỏi theo trí nhớ mơ hồ, và rồi thấy tòa nhà vàng ấy. Sơ Mary Martha – còn sống, đã già yếu – nắm tay tôi, bà khóc: “Con đã về.” Bà kể, năm đó trẻ bị bỏ rơi như cơm bữa. Nhiều đứa mang đến tận cổng, có đứa vứt ở bãi rác trước. Tôi là một trong số đó. Các sơ đã nuôi 3.000 đứa trẻ qua bao thập kỷ. Họ không bao giờ hỏi chúng tôi mai này làm gì, chỉ cho ăn, cho ngủ, cho bú bình bằng tình yêu của người mẹ. Đứng đó, tôi xúc động đến nghẹn lời. Tôi nhìn những đứa trẻ mồ côi sau đại dịch, chúng cười đùa nhưng ánh mắt đã có dấu vết của sự mất mát. Tôi biết, tôi may mắn hơn chúng – tôi được cha mẹ nuôi cõng trên lưng, còn chúng mang vết thương tâm lý từ quá lớn. Tôi tự hứa với lòng mình: trả ơn nơi đây.
Và rồi, một tập đoàn kinh tế Việt Nam từng được tôi hỗ trợ trong thời gian làm Bộ trưởng biết tôi muốn tìm mẹ. Họ đã làm một điều khiến tôi sửng sốt – treo thưởng 1 tỷ đồng cho ai tìm được bà Đặng Thị Đẹp, với điều kiện xét nghiệm ADN trùng khớp. Họ bảo đó là món quà ân nghĩa. Tôi không ngăn cản, vì trong sâu thẳm, tôi khao khát được gặp bà. Chỉ một lần. Nhưng họ không biết rằng, tôi đã cất giữ một bí mật: bà Đặng Thị Đẹp không chỉ là cái tên trên tờ giấy. Khi còn làm việc ở Đại sứ quán Đức tại Sài Gòn, có lần tôi tình cờ xem một hồ sơ cũ và thấy tên bà xuất hiện trong danh sách nhân viên của một khách sạn sang trọng trên đường Nguyễn Huệ. Bà từng là người phục vụ tầng lớp thượng lưu. Và tôi còn biết một điều động trời hơn: trong cùng năm tôi sinh ra, một phụ nữ trẻ tên Đặng Thị Đẹp đã bị sa thải vì mang thai ngoài giá thú, và người cha được đồn là một quan chức cấp cao của chính quyền cũ. Tôi không dám tin, nhưng nếu sự thật là như vậy, thì tôi – đứa trẻ vứt trong thùng rác – lại mang dòng máu của quyền lực Sài Gòn xưa. Đó là lý do tôi không công khai tất cả manh mối. Tôi muốn tự mình chạm tay vào quá khứ, dù nó có thể khiến tôi tan vỡ.
Sau lời treo thưởng 1 tỷ, hàng trăm người tự nhận là thân nhân, nhưng tất cả đều sai. Có người đưa ra một bức ảnh mờ – một người phụ nữ đứng trước số nhà 40 Nguyễn Huệ, dáng người mảnh mai, mái tóc dài, nhưng khuôn mặt không rõ. Tôi đưa cho chuyên gia giám định, họ lắc đầu: không thể khẳng định. Địa chỉ năm xưa giờ là tòa nhà văn phòng, chủ mới không biết bà đã đi đâu. Tôi thuê thám tử, lùng sục hồ sơ di dân, bệnh viện, chùa chiền. Bà như một bóng ma – từng tồn tại, nhưng đã xóa sạch dấu vết. Có lúc tôi ngồi một mình trong khách sạn, nhìn dòng sông Sài Gòn lấp lánh đèn, và tôi tự hỏi: bà có đứng ở đây năm ấy, nhìn xuống dòng nước, đau đớn quyết định vứt bỏ tôi để giữ danh phận? Hay bà bị ép buộc, bị gia đình đuổi đi, không còn cách nào khác? Mỗi giả thiết đều xé nát lòng tôi.
Nhưng có một chi tiết ám ảnh. Khi tôi đến thăm cô nhi viện lần thứ hai, sơ già đưa cho tôi một vật nhỏ:…………………Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện
TẠI ĐÂY
một chiếc lắc tay bằng bạc, cũ kỹ, có khắc một chữ “H”. Bà bảo, lúc tôi được mang vào, vật này kẹp trong tã. Chữ H có thể là họ, hoặc tên đệm của cha tôi. Tôi đưa đi phân tích, phát hiện nó được chế tác ở Sài Gòn trước 1973, kiểu dùng cho giới quý tộc. Nếu bà Đặng Thị Đẹp thuộc tầng lớp lao động, làm sao có được chiếc lắc đắt tiền ấy? Có thể bà nhận từ người cha của tôi – một nhân vật có địa vị. Giả thuyết ấy khiến tôi đau đầu. Tôi chưa bao giờ muốn danh phận, tôi chỉ muốn một cái ôm, một lời giải thích. Nhưng cánh cửa mỗi ngày một đóng chặt.
Tôi không bỏ cuộc. Tôi cho thành lập một trang web, kêu gọi mọi người chia sẻ thông tin, đồng thời sử dụng danh tiếng để lần ra các hồ sơ cũ của chính quyền Sài Gòn. Cuối cùng, một nhà nghiên cứu lịch sử tìm cho tôi một cuốn niên giám xuất bản năm 1972, có danh sách nhân viên của khách sạn Majestic. Dòng chữ “Đặng Thị Đẹp – nhân viên buồng phòng” hiện ra rõ mồn một. Bà mới 19 tuổi. Khuôn mặt trong ảnh là một cô gái xinh xắn, với đôi mắt buồn sâu thẳm – giống hệt đôi mắt tôi nhìn trong gương mỗi sáng. Tôi không thở được. Đó là bà. Và sau tên bà, có một dòng chú thích bằng bút mực: “Nghỉ việc tháng 3/1973, lý do: thai sản.” Thai sản – đó là tôi. Tôi sinh vào tháng 2/1973, vậy bà rời khách sạn ngay sau khi sinh tôi, một tháng lẻ. Có lẽ bà đã giấu kín, cố gắng làm việc đến phút cuối, và khi không thể che giấu nữa, bà đã vứt tôi đi để giữ lấy sinh kế. Tôi không trách, nhưng nỗi đau cứa sâu.
Tôi thuê người lục tìm các giấy tờ ly tán của khách sạn, hỏi những nhân viên cũ. Một bà cụ 80 tuổi từng là tiếp viên nhớ lại: “Con bé Đẹp hay khóc một mình. Nó không nói cha đứa bé là ai, nhưng có một ông khách Tây hay đến, rồi đột nhiên biến mất. Sau khi nó sinh, người ta thấy nó vác một túi đồ ra bến xe, mặt mày hốc hác. Không ai gặp nó nữa.” Tôi cho giám định chiếc lắc tay, và kết quả bất ngờ: bạc có nguồn gốc từ một nhãn hiệu trang sức của Pháp, rất được ưa chuộng trong giới sĩ quan cấp cao. Vậy cha tôi có thể là một sĩ quan Pháp? Hay người Mỹ? Chiến tranh đã kết thúc năm 1975, mọi dấu tích đều bị xóa. Tôi đứng trước sự thật vừa gần vừa xa.
Còn bà Đặng Thị Đẹp, tôi cố tìm danh sách tử vong, di cư, nhưng không có. Có thông tin bà có thể đã sang Mỹ theo diện H.O, nhưng không xác nhận được. Cũng có tin đồn bà ở lại Việt Nam và sống ẩn dật ở miền Tây, đổi tên. Tôi cho người đến từng tỉnh thành, rà soát tất cả phụ nữ tên Đẹp sinh khoảng 1953-1955, nhưng không có trùng khớp ADN. Có lẽ bà đã chết đơn độc, không ai biết. Mỗi đêm, tôi mơ thấy bà đứng ở bến xe, tay bế tôi, rồi buông ra, quay lưng đi. Tôi chạy theo nhưng đôi chân tôi đóng băng. Tôi thức dậy với hai dòng nước mắt.
Và rồi, một người phụ nữ trung niên liên hệ với quỹ của tôi, xin gặp riêng. Chị đưa tôi một cuốn sổ tay cũ của mẹ chị – người đã mất năm 2010 – trong đó có một trang ghi: “Năm 1973, tôi có một đứa con trai, đặt tên Bách, gửi ở cô nhi viện Sóc Trăng. Mong con được sống tốt.” Mẹ chị tên là Nguyễn Thị Đẹp, không phải Đặng Thị Đẹp. Nhưng chi tiết gửi ở Sóc Trăng trùng khớp. Chị ấy kể, mẹ chị thường khóc mỗi dịp sinh nhật tháng 2, và dặn: “Nếu có ai tìm, nói rằng mẹ xin lỗi.” Tôi cho xét nghiệm ADN so với mẫu tóc còn lưu, nhưng lại không khớp. Lại một ngõ cụt. Hàng chục người mẹ khác cũng nhận con, nhưng đều sai. Tôi bắt đầu mệt mỏi, nhưng vợ tôi bảo: “Anh đã tìm một người mẹ, nhưng thực ra anh đang tìm chính mình. Hãy đủ can đảm để sống với hai chữ ‘không biết’.” Và tôi chấp nhận rằng có thể sẽ không bao giờ gặp được bà.
Nhưng tôi không để điều đó ngăn tôi giúp đỡ những đứa trẻ mồ côi khác. Tôi dùng số tiền quyên góp được từ sinh nhật 50 tuổi – hơn 200.000 euro – để xây dựng thư viện và cấp học bổng y khoa cho các cô gái Đồng bằng sông Cửu Long. Tôi thành lập chương trình tư vấn tâm lý cho trại trẻ, vì tôi hiểu cái vết thương của bị bỏ rơi, dù có băng bó thế nào, vẫn rỉ máu. Trong các chuyến về Việt Nam, tôi không còn đi tìm bà Đặng Thị Đẹp nữa, mà đi tìm những bà mẹ mới – những sơ dòng, những người nuôi dạy bọn trẻ bằng chính tấm lòng mà các sơ đã dành cho tôi. Tôi nói với các em nhỏ: “Các em có thể thành bác sĩ, chính trị gia, hoặc bất cứ điều gì. Nhưng quan trọng nhất, đừng để quá khứ tước đi ánh sáng của tương lai.”
Có đêm, tôi đứng trên ban công căn hộ ở Genève, nhìn về phương Đông, tôi tự hỏi bà Đặng Thị Đẹp – nếu còn sống – bà có biết con trai bà là ai không? Liệu bà có cúi đầu đọc những dòng tin tức về tôi trên báo? Tôi không cần một lời xin lỗi, chỉ cần bà biết tôi đã được yêu thương, đã thành người. Và tôi cũng yêu bà, dù bà chưa từng ôm tôi một lần. Chính sự thiếu vắng ấy đã tạo nên một khoảng trống mà tôi dành trọn đời để lấp bằng những hành động cho những đứa trẻ khác. Tôi trở thành người cha mà tôi chưa có, người mẹ mà tôi không được thấy.
Hành trình tìm mẹ của tôi kết thúc trong mơ hồ, nhưng hành trình trả ơn vẫn tiếp diễn. Mỗi lần bế một em bé mồ côi trên tay, tôi lại thấy bà Đặng Thị Đẹp đứng sau lưng tôi, lặng lẽ đặt tay lên vai tôi. Tôi không quay đầu lại, nhưng tôi biết bà ở đó, trong từng số phận tôi chạm đến. Và đó có lẽ là cách duy nhất để chúng tôi gặp lại nhau. Tôi rời cô nhi viện lần cuối với chiếc lắc tay bạc trong túi, không mang theo nỗi đau, chỉ mang theo một lời hứa: bằng số phận của mình, tôi sẽ nâng đỡ những đứa trẻ giống như tôi, để chúng khỏi phải đi tìm một cái tên trên tờ giấy mờ. Và nếu một ngày kia, bà tìm thấy tôi qua những dòng viết này, tôi xin nói với bà: “Con đã sống tốt. Con không trách bà. Bà là một phần của con, và con sẽ không bao giờ vứt bỏ bà khỏi ký ức.”
